Chùa Dâu còn có tên còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân, hay Cổ Châu nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam. Mặc dù các dấu tích vật chất không còn, chùa đã được xây dựng lại.
Chùa Dâu còn được người dân gọi bằng nhiều tên gọi khác như chùa Cả, Cổ Châu tự, Thiền Định tự. Là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử năm 1962, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2013.
Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Theo truyền thuyết thì sự ra đời của chùa Dâu gắn liền với sự tích bà phật mẫu Man Nương và hệ thống phật Tứ pháp ( Pháp Vân- Pháp Vũ- Pháp Lôi- Pháp Điện ) hay còn được gọi là (Mây- Mưa- Sấm- Chớp).
Trong Tứ Pháp thì Pháp Vân đứng đầu, đại diện cho cả Tứ Pháp được thờ cúng rộng rãi hơn cả. Vì Pháp Vân là trọng tâm, nên Chùa Dâu đã trở thành trung tâm của tín ngưỡng này ở cả vùng Dâu lẫn cả nước.
Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây và lập nên một phái thiền ở Việt Nam ở cuối thế kỷ 6. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông từng sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa. Hiện nay, ở tòa thượng điện, chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời nhà Trần và thời nhà Lê.
Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt, chùa Dâu được xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc". Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện.
Tiền đường của chùa Dâu đặt tượng Hộ pháp, tám vị Kim Cương. Gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam châu Thái tử, Mạc Đĩnh Chi. Thượng điện để tượng Bà Dâu (Pháp Vân), Bà Đậu (Pháp Vũ). Các pho tượng Bồ tát, Tam thế, Đức ông, Thánh tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính.
Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ. Ở gian giữa chùa có tượng Bà Dâu, hay nữ thần Pháp Vân, uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun, cao gần 2 m được bày ở gian giữa. Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ, tới quê hương Tây Trúc.
Giữa sân chùa trải rộng là tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm.
Lễ hội chùa Dâu diễn ra vào ngày 8 tháng Tư âm lịch hàng năm với nhiều nghi thức và các trò chơi dân gian. Đến nay dân gian vẫn lưu truyền câu ca: Dù ai buôn bán trăm nghề/Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
